Cần giữ ǵn sự trong sáng
của ngôn ngữ Nam Bộ
Nguyễn Hữu Hiệp
Cũng
như người Nam Bộ, ngôn ngữ Nam Bộ rất
chân quê, giản dị, nhưng lại cực kỳ phong
phú, đa dạng. Nó phong phú và đa dạng đến
mức không ai tài nào kể ra cho hết được
cả trăm, thậm chí nhiều trăm từ/ tiếng
riêng biệt, mà mới nghe qua, người ta tưởng
chừng như dân gian đă sử dụng một cách
tuỳ tiện, hoặc dư thừa không cần
thiết, song nếu có để tâm t́m hiểu,
người ta mới nhận ra rằng, ở mỗi
một trường hợp, mỗi một t́nh tiết, dân
gian đă sử dụng ngôn từ rất tinh tế, h́nh
tượng và tất nhiên vô cùng chính xác.
Về
phương diện này, đôi khi chính “người Nam
Bộ hôm nay” cũng chưa chắc đă thấu triệt
hoàn toàn ư nghĩa cụ thể của từng từ,
cụm từ. Đơn giản v́ người ta đă
hoặc vô t́nh, hoặc cố ư xem thường ngôn ngữ
dân tộc ḿnh. Người đọc thỉnh thoảng
vẫn bắt gặp đó đây những cách giải
thích từ, ngữ hết sức tuỳ tiện, cũng
như nhận định, xem xét sự kiện hết
sức hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn
mắt” mà c̣n dẫn đến sai lầm nghiêm trọng. Như
thế quả là hết sức tai hại, bởi nó không
thể không gây xáo trộn kiến thức, tạo sự
hoang man và hoài nghi cho người đọc.
Thí
dụ như có người đă giải thích câu “Một trái cà bằng ba thang
thuốc” là: cà rất độc, ăn một trái th́
phải uống ba thang thuốc mới trị hết
bệnh ! Lẽ nào lại như thế, khi mà bất
cứ nơi đâu trên đất nước ta, nhân dân
cũng tôn vinh trái cà. Ca dao:
Ba
cơm, bảy mắm, chín cà,
Sớm
trưa, trưa nắng mới ra lúa này.
Lộc
đỗ cho chí lộc vừng,
Quả
cà, vại nhút, quả sung để dành.
Đẩy
nốc th́ phải có đà,
Ăn
cơm canh hến có quả cà mới ngon!
Cà
là món ăn thường bữa rất thân thiết:
Anh
đi nhớ quê nhà,
Nhớ
canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Làm
cho lắm cũng mắm kho cà,
Làm
thấy bà cũng cà kho mắm!
Rơ
ràng, từ cổ chí kim, từ Nam chí Bắc bữa chay hay
bữa mặn… cà tṛn và cả cà dài (tức tím hay cà dái dê)
đều là thức ăn bổ dưỡng, rất quen
thuộc của nhân dân (cũng là vị thuốc có giá
trị, chữa được khá nhiều bệnh).
Thế, sao lại bảo cà là chất độc?!
Giải
thích tuỳ tiện có khi c̣n làm mất đi cái hồn
của ngôn ngữ, làm hoen ố tính trong sáng vốn có
của tiếng Việt đáng yêu. Đơn cử
như:
-
Cuốn sách “Văn hóa đại cương và cơ
sở văn hóa Việt Nam” – Đại học quốc
gia Hà Nội – “tài liệu dùng để tham khảo
giảng dạy và học tập trong các trường
đại học”, đă giải thích: “Nước rong:
nước cạn. Nước ṛng: nước lớn”!
-
Cuốn sách “Diện mạo văn học dân gian Nam
Bộ” đă giải thích chữ buôi (trong câu “Nước
chảy
xuôi con cá buôi lội ngược”)
là “bơi. Tiếng Nam Bộ xưa”! Ta biết, cá buôi
là một loại cá cụ thể, quê hương của nó
không chỉ khu biệt ở Nam Bộ, mà nó cũng có
nhiều ở những nơi khác (nay đă tuyệt
chủng?). Đó là “thứ cá sông tṛn ḿnh, nhỏ con mà có
nhiều mỡ” (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam
quốc âm tự vị). Ca dao: “Nước chảy
xuôi con cá buôi lội ngược, Nước chảy
ngược con cá vược lội xuôi, Anh với em xa
cách ngậm ngùi, Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng”;
“Ngó lên trời thấy cục mây bạch, Ngó xuống vàm
rạch thấy cá chạch đỏ đuôi, Nước
chảy xuôi con cá buôi lội ngược, Nước
chảy ngược con cá vược lội theo, Con cá heo
nó khóc, Con cá lóc nó sầu… Phải chi ngoài biển có cầu.
Anh ra đến đó giải sầu cho em”; và : “Năm
tiền một khứa cá buôi, Cũng mua cho đặng
đăi người khách sang” hoặc “Ba tiền
một khứa cá buôi, Cũng mua cho được mà nuôi
mẹ già”. Vậy là đă quá rơ ràng!
Ở
một chỗ khác tác giả sách đă dẫn nêu câu ca dao:
Con
cút cụt đuôi ai nuôi mầy lớn?
Dạ
thưa bà con lớn, bà nuôi?
chú
thích rằng: Có kẻ đă bẻ lại vế này ra “Dạ
thưa bà con lớn ḿnh con” và cũng đă bị
mắng rằng “cái đồ ở dưới lỗ
nẻ chun lên”.
Câu
này, nếu cho là “dị bản” th́ chẳng đáng là
chuyện phải bàn, nhưng ở đây nó đă bị
hiểu là “có kẻ đă bẻ lại”. Tôi cho rằng nói
như vậy là không thỏa đáng. Chúng ta đều
biết, ngày xưa người Nam Bộ xưng hô với
người trên là “tui” chứ không xưng là “con”, “em”, “cháu”
như khoảng 50 năm trở lại đây. Câu ấy
đúng là “Dạ thưa bà tui lớn ḿnh tui”, và
nếu không nghiên cứu sâu sẽ không thể nào hiểu
nỗi cái lư tại sao “tui lớn ḿnh tui” được!
Cốt lơi của vấn đề là “con cút” (chứ không
phải con vật nuôi nào khác), lại là “con cút cụt
đuôi”! Nếu có để tâm đặc biệt chú ư hai
yếu tố vật nuôi và cụt đuôi
(khuyết tật), rồi liên tưởng đến quy
định về tế lễ của đời xưa,
đồng thời có t́m hiểu sâu và “thật tới”
nguyên lư cấu trúc thi pháp của ca dao Nam Bộ ta mới
thấy rơ cái độc đáo của vấn đề, và
không thể không nghiêng ḿnh bái phục trí tuệ của dân
gian.
Thế
mới biết nó sẽ vô cùng nhạt nhẽo, thậm chí
vô vị khi cho rằng “con lớn, bà nuôi”! – Ai bẻ
ngược lại làm cho hư mất câu ca dao tuyệt
vời này? Hỏi tức trả lời.
Trong
phạm vi của một bài viết nhỏ không cho phép
người viết dài ḍng giải thích bởi không khéo
sẽ mắc phải “nói sang đàng”. Và, cũng không
cần dẫn chứng thêm chi nhiều, chỉ “đơn
cử” một vài như thế tưởng cũng
đủ hiểu được vấn đề. Chính v́
vậy mà các nhà văn, nhà thơ, các nhà soạn văn
bản, và nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ
bao giờ cũng tỏ ra rất trân trọng, và luôn ư
thức ǵn giữ, bảo lưu tính tích cực của
vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang
sử dụng phát triển. Bởi nếu không như
thế th́ sẽ không tránh khỏi t́nh trạng nghèo hóa ngôn
ngữ, nếu không muốn nói đó là một hành vi
phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp
thế hệ cha ông ḿnh – những người đă
phải trải quá tŕnh lao động, chiến đấu
vô cùng gian nan, vất vả, để rồi từ sự
cọ xát cuộc sống trong sinh hoạt đời
thường, họ mới lần lượt sáng tạo
và phát minh ra cả một kho tàng ngôn ngữ cực kỳ
phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta thừa
hưởng. Thế th́ lẽ nào ta lại nỡ phụ
phàng, ngoảnh mặt?
Ngôn
ngữ/ tiếng nói, được dân gian dùng làm phương
tiện giao tiếp. Tùy từng thời và theo trào lưu
tiến hóa, nó không thể không biến hóa đồng cùng
với việc bổ sung thêm măi cho được thích
ứng, ở đó có không ít từ/ tiếng người
nay ít dùng, thậm chí không c̣n dùng, tức đă trở thành
“tử ngữ”. Chúng đă vui ḷng yên nghỉ nhưng
thiết tưởng ta cũng nên có cái nh́n đầy tŕu
mến, bởi dù sao nó cũng đă hoàn thành chức
năng vẻ vang của ḿnh trong một giai đoạn
lịch sử xă hội cụ thể. Thế th́ nỡ nào
ta lại không quư trọng, không có tấm ḷng đối
với cái di sản phi vật thể cao cấp ấy?
Thật là khập khiểng khi mà ai nấy chỉ biết
quư trọng những di sản vật thể, thí dụ
như những pho tượng cốt được
người xưa chạm khắc hết sức ngô nghê,
hoặc những chum lọ, nồi trách, b́nh vôi sức quai,
mẻ miệng, thậm chí chỉ là những mảnh
vỡ cũng được đưa vô bảo tàng,
hoặc dựng cất mái che để trân tàng, bảo
vệ những viên gạch lùi xùi vốn chỉ là
đất nung!
Thật
đáng quư biết bao khi được biết rằng,
cho đến ngày nay, dù đă trải mấy ngh́n năm
kể từ ngày loài người đă phát minh ra giấy
viết, tức không c̣n phải “đề thơ trên lá”
nữa, mà ngành Bưu điện Việt Nam vẫn c̣n dùng
mẫu ấn chỉ “Lá báo” (trong quan hệ nội bộ
giữa các bưu trạm) ngành báo chí Việt Nam vẫn dùng
“Lá thư ṭa soạn” để tâm t́nh với bạn
đọc thân yêu của ḿnh! C̣n dân gian th́ vẫn gọi
vật “chỉ thời gian” là đồng hồ trong
khi vật ấy không c̣n chút dấu vết nào của đồng,
của hồ như xa xưa. Tinh thần bảo
tồn ấy thật rất đáng ghi nhận, hoan nghênh!
Ngôn
ngữ/ tiếng nói của Nam Bộ đích thực là
mộc mạc, chân quê, nhưng đó là thứ mộc
mạc chân quê rất đích xác, rất thiêng liêng của
người Việt Nam không đâu có được, và có
lẽ cũng sẽ rất khó t́m thấy ở các dân
tộc khác sự phong phú “trên cả tuyệt vời”
đến thế.
Chẳng
hạn như để mô tả trạng thái của
nước, ngôn ngữ Nam Bộ có đến hàng chục:
nước lớn, nước ṛng, nước rong,
nước kém, nước đầy mà, nước
rặt, nước nhửng, nước nhảng,
nước ưng, nước quay, nước lên,
nước đổ, nước lộn, nước dâng,
nước ḅ, nước sụt, nước trồi,
nước môi, nước xẹt, nước lụt,
nước tống, nước chụp, nước phân
đồng. Hoặc như nói về cái chết của
con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm
cách nói, mà cách nào cũng có nghĩa lư riêng như: mất,
qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”,
ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử
thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh
dũng hi sinh, đền xong nợ nước, ly trần,
tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh,
Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế
giới, về cơi vĩnh hằng, trở về cát bụi
v.v. và v.v.
Rồi
th́ cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười…
mỗi mỗi hầu như người Nam Bộ nào
cũng sẵn có “cả kho”, ít ǵ cũng hàng trăm,
thậm chí hàng ngàn – từ nào cũng mang ư nghĩa riêng,
biểu tỏ rất h́nh tượng, chân xác, đồng
thời thể hiện rất đúng tâm trạng hoặc
trạng thái của nhân vật, ngay cả tại “thời
điểm khoảnh khắc”. Nó phong phú đến mức
không ai tài nào có thể ghi lại được một cách
đầy đủ – cho dù là tương đối!
Trước
đây người ta cho rằng tiếng nói của Nam
Bộ là… phương ngữ, không hơn không kém, xem như
nó chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ, khu
biệt trong một địa phương – ít nhiều có
ư “phân biệt”, xem thường! Nhưng dần về sau,
khi đă nhận chân được rằng, tiếng
Việt Nam Bộ quả đă thực sự đóng góp
rất tích cực trong việc làm giàu ra cho ngôn ngữ toàn
dân th́, cách hiểu mang tính cục bộ ấy không c̣n phù
hợp, v́ rơ ràng là thiếu công bằng, nên đă
đổi gọi lại, không dùng phương ngữ
Nam Bộ nữa mà gọi là ngôn ngữ Nam Bộ.
Ngôn
ngữ Nam Bộ là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn
ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn
ngữ là người sử dụng, giữ ǵn và phát huy
sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu
v́ lư do nào đó ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt th́
một ngày không xa đương nhiên nó sẽ teo tóp
dần, lúc ấy ta c̣n ǵ trong tay để “giữ ǵn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”?